Bệnh Tiền Liệt Tuyến Nguyên Nhân Dấu Hiệu Và Cách Điều Trị Hiệu Quả

Switch to desktop Register Login

Đề Tài Cấp Cơ Sở Tế Sinh Thận Khí Hoàn

* Thể bàng quang thấp nhiệt:

- Nguyên nhân gây bệnh u xơ tiền liệt tuyến: do thấp nhiệt uất kết ở bàng quang làm cho khí hóa bất lợi, sự đóng mở bất thường và tân dịch bị hun đốt gây bệnh.

Bệnh phần nhiều do ngoại cảm thấp tà hoặc ăn uống không điều độ, thấp nhiệt sinh ra dồn xuống bàng quang.

- Dấu hiệu u xơ tiền liệt tuyến: bệnh nhân thấy khó tiểu, không thông lợi, tiểu nhiều lần, tiểu ít đỏ và đục, khi đi tiểu nóng niệu đạo, bụng dưới đau, khát nước, kèm theo sốt. Đại tiện khó, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ. Mạch hoạt sác.

- Chữa u xơ tiền liệt tuyến : thanh nhiệt, hóa thấp, thông lợi bàng quang.

bien-chung-luan-tri-benh-u-xo-phi-dai-tien-liet-tuyen-theo-the-benh-yhct

- Phương thuốc:

Thuốc nam

Tỳ giải                                  16g

Chi tử                                        12g

Thổ phục linh                        16g

Quế chi                                      4g

Rễ cỏ tranh                            12g

Hoa mã đề                                 12g

Liều dùng: Sắc uống ngày 1 thang.

Cổ phương

Tri mẫu                                    12g

Xa tiền tử                                   12g

Hoàng bá                                  12g

Hoạt thạch                                  12g

Nhục quế                                  4g

Mộc thông                                  8g

Cù mạch                                   12g

Chi tử                                         12g

Đại hoàng                                 8g

Biển súc                                     12g

Cam thảo                                  8g

Đăng tâm thảo                           12g

Liều dùng: Sắc uống ngày 1 thang.

Thanh nhiệt, lợi thấp, thông lâm.

Đại hoàng

Tiết nhiệt

Cam thảo

Hoãn cấp

Đăng tâm thảo

Dẫn nhiệt đi xuống

Nhục quế

Khí hóa bàng quang

* Thể khí huyết ứ trệ

- Khí huyết uất kết.

- Khí uất ngưng trệ.

- Biểu hiện lâm sàng: tiểu nhiều lần không thông, dòng nước tiểu nhỏ như sợi chỉ, đứt đoạn hoặc tiểu nhỏ giọt, tiểu đau hoặc đầy chướng bụng dưới, chất lưỡi tím hoặc đỏ xạm có điểm ứ huyết. Mạch sáp hoãn.

- Pháp điều trị: thanh lợi hạ tiêu, hoạt huyết hóa ứ, nhuyễn kiên tán kết.

- Phương thuốc:

Thuốc nam

Mã đề                                  16g

Rễ cỏ tranh                              16g

Râu mèo                              20g

Rễ cỏ xước                               16g

Tô mộc                                12g

Mộc thông                               12g

Liều dùng: Sắc uống ngày một thang

Cổ phương: Đại để dương dê hoàn

Đại hoàng                           4 lạng

Mang tiêu                                1 lạng

Quy vĩ                                 1 lạng

Đào nhân                                 60 hạt

Sinh địa                               1 lạng

Nhục quế                           3 đồng cân

Xuyên sơn giáp                   1 lạng

 

Gia: cù mạch, Biển súc, Kim tiền thảo: tán kết, thông niệu đạo.

Thống ứ hóa kết.

Sinh địa: lương huyết tư âm

Nhục quế: khí hóa bàng quang

Tán bột làm viên với mật ong uống ngày 20 – 30g.

*Thể thận dương hư

- Lâm sàng: tiểu tiện yếu, không thông, nhỏ giọt khó đi sức bài tiết yếu, lưng đau, gối mỏi và lạnh, sợ lạnh ưa ấm, chân tay lạnh, lưỡi nhợt rêu trắng, mạch trầm tế hoặc trầm trì.

- Pháp điều trị: ôn dương ích khí – bổ thận thông khiếu.

- Phương thuốc:

Thuốc nam

Cao ban long                       20g

Mã đề                                        12g

Rễ cỏ xước                          12g

Nhục quế                                   4g

Liều dùng: Sắc uống ngày 1 thang.

Cổ phương: bài Tế sinh thận khí hoàn

Thục địa                                2 lạng

Phụ tử chế                                 2 củ

Hoài sơn                               1 lạng

Nhục quế                               0,5 lạng

Sơn thù                                 1 lạng

Ngưu tất                                 0,5 lạng

Phục linh                              1 lạng

Xa tiền tử                               1 lạng

Trạch tả                                1 lạng

Đan bì                                    1 lạng

Tán bột làm viên hoàn uống 20g/1 ngày

Trong các sách kinh điển của YHCT không có tên u xơ tiền liệt tuyến lành tính nhưng các chứng tiểu khó, không thông thường được qui nạp về các chứng long bế, lâm chứng, di niệu của YHCT.
Các khái niệm chung
Long bế: là tiểu không thông hoặc bí tiểu, tiểu không thoát, thường tiểu nhỏ giọt, nước tiểu ít, bệnh từ từ, bí tiểu muốn tiểu mà không tiểu được, bệnh thường đột ngột.
Nguyên nhân: do khí hóa bàng quang không thông lợi.

tieu-chuan-benh-nhan-u-xo-phi-dai-tuyen-tien-liet-theo-y-hoc-co-truyen

Dấu hiệu bệnh phì đại tiền liệt tuyến là: đi tiểu nhiều lần, tiểu buốt, nước tiểu ít khó ra, tức nóng bàng quang, bụng dưới đau. Thường chia làm 5 loại: nhiệt lâm, thạch lâm, huyết lâm, lao lâm, cao lâm.
Nguyên nhân: do tỳ thấp uất nhiệt gây ra. ( theo nội kinh )
Theo chủ bệnh nguyên hậu luận: các bệnh lâm do thận hư - bàng quang thấp nhiệt gây nên.
Di niệu: Là chứng tiểu tiện không khống chế được, tự rỉ ra hay đái dầm. Đái dầm hay gặp ở trẻ em- Tiểu tiện không khống chế được thường gặp ở người già.
Nguyên nhân: thường do thận khí hư hoặc bàng quang không chế ước được gây nên.
*Phân biệt giữa lâm chứng và long bế
- Giống nhau: đi tiểu khó.
- Khác nhau:
+ Long bế: nước tiểu ra khó hoặc không ra được
+ Lâm chứng: tiểu ít, són tiểu, tiểu đau.
Trong các chứng trên u xơ, phì đại tiền liệt tuyến gần nhất với chứng Long bế.
Bàng quang là nơi chứa đựng nước tiểu và việc quản lí bài xuất nước tiểu, việc hình thành chứng long bế là do khí hóa bàng quang kém – bệnh nhân đi tiểu không hết nguyên nhân thường do:
Thấp nhiệt ứ trệ ở bàng quang: thấp tà hóa nhiệt, tà nhiệt kết ở bàng quang làm cho bàng quang khí hóa không thuận lợi gây nên đi tiểu khó và đau buốt khi đi tiểu.
Khí huyết ứ ngưng tụ ở bàng quang: khí huyết uất kết do nguyên nhân thất tình ( can uất khí trệ ) khí cơ không điều tiết được từ đó ảnh hưởng đến vận hành của khí hóa và thủy dịch gây nên bệnh.
Thận khí yếu: chủ yếu do thận dương hư, mệnh môn hỏa suy dẫn tới khí hóa của bàng quang không thuận lợi làm tiểu tiện không ra được ( thủy dịch bị đình trệ ) ở người cao tuổi thận dương suy, phế khí đều hư không đủ sức đưa nước tiểu ra ngoài gây bệnh.
Sách nội kinh có nói: tam tiêu có chức phận khơi thông thủy đạo, bàng quang khí hóa thì bài xuất nước tiểu ra ngoài. Bàng quang và thận có quan hệ biểu lí, thận có bệnh gây bệnh lí bàng quang.
Bàng quang muốn bài xuất nước tiểu nhờ vào sự khí hóa của tam tiêu, tam tiêu hoạt động nhờ vào sự ôn ấm của thận dương vì vậy khi thận, tam tiêu , bàng quang cùng phối hợp mới hoàn thành được công năng thải nước tiểu.

Bệnh tiền liệt tuyến thường gặp ở người cao tuổi do chính khí suy giảm, công năng tạng phủ thất điều( mệnh môn hỏa suy, tỳ thận dương hư, trung khí hạ hãm…) Khí huyết âm dương hư tổn, ảnh hưởng tới công năng khí hóa bàng quang của tam tiêu mà sinh bệnh.

Người bị phì đại, u xơ tuyến tiền liệt sẽ điều trị ngoại khoa khi Bí tiểu hoàn toàn và không hoàn toàn, thể tích nước tiểu tồn dư > 100ml.
Nhiễm khuẩn tiết niệu, Sỏi tiết niệu, U bàng quang.
Mổ nội soi.
Mổ bóc u tiền liệt tuyến qua đường trên.
Cắt tiền liệt tuyến qua nội soi niệu đạo (TURP Trans Urethral Resection of the Prostate)

dieu-tri-ngoai-khoa-benh-phi-dai-tuyen-tien-liet

Điều trị bằng nhiệt:

- Đốt điện bằng vi sóng (TUMT Trans Urethral Microwave Thermal Therapy). Trung tâm công nghệ Laser, viện nghiên cứu ứng dụng công nghệ, Bộ KH và CN đã sản xuất được máy điện từ trường đầu tiên của Việt Nam, thử nghiệm trên 500 bệnh nhân, có hiệu quả tốt. (Nguồn Vnexpress)
- Đốt bằng kim qua niệu đạo (TUNA Trans Urethral Needdle Albation).
- Quang đông bằng tia laser (ILC Intertitial Laser Coagulation) Kỹ thuật được ứng dụng tại Viện lão khoa Việt Nam, đã tiến hành trên 200 bệnh nhân, hạn chế các biến chứng thường gặp trong phẫu thuật như rò bàng quang, trực tràng, tiểu không tự chủ kéo dài, bất lực… Chi phí 4,5 triệu đồng/ca, thời gian nằm viện 2-3 ngày.

Để điều trị nooin khoa bệnh phì đại tuyến tiền liệt cần sử dụng thuốc có tính chất Hormon, thuốc kháng α giao cảm và một số loại Thuốc có nguồn gốc từ thực vật (có tác dụng chống viêm, giảm triệu chứng và giảm thể tích tuyến).

Thuốc có tính chất Hormon:
- Các chất tương tự GnRH: Nafareline, Lecoprolide… làm mất nhạy cảm của các thụ thể GnRH tại tuyến yên, ngăn cản ảnh hưởng của GnRH lên tế bào Leydic ở tinh hoàn. Tác dụng phụ gây suy sinh dục.
- Các thuốc kháng androgen: acetat cyproterone (BD Androcur 50mg ngày 4-6 viên, uống liên tục), flutamide (BD Euflex 250mg uống ngày 3 viên trong bữa ăn)…
- Thuốc ức chế 5 α reducstate ngăn testosterone không chuyển hóa thành DHT.
- Thuốc kháng oestrogen.
(Nhóm thuốc loại này hiện ít được sử dụng vì nhiều tác dụng phụ)

dieu-tri-noi-khoa-benh-tien-liet-tuyen

Thuốc kháng α giao cảm.
Cổ bàng quang và niệu đạo TTL có nhiều thụ thể α – adrenegic điều khiển co thắt của cơ trơn cổ bàng quang. Sử dụng các thuốc ức chế chọn lọc thụ thể α1 sẽ làm giãn cơ trơn cổ TTL, cổ bàng quang dẫn tới cải thiện chức năng tiểu tiện.
- Alfuzolin: (BD Xatral, Altofen, Urion) viên nén 2,5mg. Liều dùng: ngày 3 lần mỗi lần 1 viên. Với người già trên 65 tuổi liều lúc đầu sáng và tối mỗi lần 1 viên, sau tăng dần tùy theo đáp ứng nhưng không quá 4 viên/ngày.
- Doxazosin (BD: Cardura, Cardula, Carduran…) viên nén 2mg bắt đầu uống ½ viên, sau 1 đến 2 tuần tăng dần từ 2-4 viên/ngày.
- Terazoxin (BD: Hytrin, Heitrin, Hytrinex, Vasomed…) viên nén 1mg, 2mg, 5mg, 10mg. Liều dùng: ngày uống 1 viên loại 1mg tối trước khi đi ngủ trong 4 ngày đầu, sau đó cứ 10 ngày uống mỗi sáng 1 viên loại 2mg. Tuần thứ 3 uống mỗi sáng viên 5mg, từ tuần thứ 4 uống duy trì mỗi sáng viên 5mg hoặc viên 10mg. Không dùng quá 3 tháng nếu không có đáp ứng với trị liệu.
Thuốc có nguồn gốc từ thực vật (có tác dụng chống viêm, giảm triệu chứng và giảm thể tích tuyến).
- Tadenan: viên nang chứa 50mg cao khô cây mận Châu Phi (Pygeum africanum). Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên sáng và tối trước bữa ăn.
- Hazol: chiết xuất từ cây cỏ sao Nam Mỹ (Hypxis properi)
- Permixpn: chiết xuất từ cây cọ lùn Nam Mỹ (Saw Palmetto)
- Bmorocriptin: chất bán tổng hợp của cây cựa gà.
- Crila: chiết xuất từ cây Trinh nữ hoàng cung (Crinum Latifolium L)

Ung thư tiền liệt tuyến : thăm trực tràng, PSA, chụp cắt lớp vi tính, sinh thiết.
Viêm tiền liệt tuyến mạn tính: thăm trực tràng TLT to đau, có tiền sử viêm mào tinh, tiền liệt tuyến.
Hẹp niệu đạo, xơ cổ bàng quang sau chấn thương, soi bàng quang.
Nhiễm khuẩn tiết niệu
Rối loạn tiểu tiện do nguyên nhân thần kinh: chấn thương, gai đôi cột sống, u tủy sống rối loạn cơ tròn trong di chứng tai biến mạch máu não, viêm màng não…

Siêu âm ổ bụng hoặc siêu âm đầu dò trực tràng đo kích thước của tiền liệt tuyến . Siêu âm đánh giá lượng nước tiểu tồn dư, phát hiện túi thừa, sỏi bàng quang, và tình trạng thận, siêu âm là một trong những biện pháp theo dõi hiệu quả điều trị.
Xét nghiệm chức năng thận: ure và creatinin máu
Xét nghiệm nước tiểu: máu mủ, bạch cầu. protein…

sieu-am-phat-hien-benh-tien-liet-tuyen

Kháng nguyên đặc hiệu tiền liệt tuyến : PSA (Prostatic Specific Antigen) để phân biệt với ung thư TTl. Bình thường PSA < 4ng/ml, ở nồng độ 3 – 7 ng/ml nguy cơ ung thư là 25%, ở nồng độ 7 – 30 ng/ml nguy cơ ung thư là 60%, ở nồng độ > 30ng/ml tỷ lệ ung thư là 90%.

Đo áp lực dòng đồ: chưa có tại Việt Nam.
Đo niệu dòng đồ: chưa có tại Việt Nam.
Chụp UIV: khi có suy thận, viêm thận, sỏi thận.

Các triệu chứng Lâm sàng của bệnh tuyến tiền liệt bao gồm:

Dựa vào hỏi bệnh về tính chất, thời gian kéo dài của hội chứng chèn ép và hội chứng kích thích.
Đánh giá mức độ dựa vào thang điểm.
Thang điểm IPSS ( International prostatic Symptom score ) do bệnh nhân tự đánh giá, điểm càng cao bệnh càng nặng .
Thang điểm chất lượng cuộc sống: Dùng phối hợp với IPSS để đánh giá sự chịu đựng của bệnh nhân với tình trạng bệnh.

cac-trieu-chung-lam-sang-cua-benh-tuyen-tien-liet

Thăm trực tràng: tiền liệt tuyến to đều, tròn, mất rãnh giữa, chắc, đàn hồi và không đau. Phân biệt với viêm tiền liệt tuyến khi ấn vào đau, phân biệt với ung thư TLT thấy tuyến chắc như sỏi, mật độ không đều có u cục nổi hẳn lên.

Bệnh tiền liệt tuyến được chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: là giai đoạn cơ năng chưa có tổn thương thực thể. Biểu hiện chủ yếu các triệu chứng là rối loạn tiểu tiện như tiểu khó, tiểu yếu, nhỏ giọt, thời gian đi tiểu tăng, tiểu nhiều lần…
- Giai đoạn 2: là giai đoạn có tổn thương thực thể, bàng quang giãn có tồn đọng nước tiểu > 100 ml, có thể có dấu hiệu rối loạn nước tiểu gây tiểu buốt, tiểu đục, sốt.
- Giai đoạn 3: tổn thương thực thể nặng hơn, có ảnh hưởng tới chức năng thận, bàng quang giãn mất bù, thể tích nước tiểu tồn dư tăng > 150 ml, nước tiểu tự rỉ không tự chủ, suy thận.

cac-giai-doan-cua-benh-tien-liet-tuyen

Bệnh tiền liệt tuyến được chia làm 3 giai đoạn

Tuyến tiền liệt là một tuyến của hệ sinh sản nam. Trong khoảng 7 tuần lễ đầu của thời kỳ bào thai, cơ quan hóa sinh dục của hai giới nam nữ có bề ngoài giống nhau, sau đó mới biệt hóa và phát triển hình thái đặc thù, cho từng giới cả bên trong lẫn bên ngoài. Tuyến tiền liệt có kích thước như quả hạt dẻ, to, dẹt, chỉ có ở nam giới, nằm trước trực tràng, ngay dưới bàng quang và bao quanh ống niệu đạo, gồm hai múi. Tuyến tiền liệt chính là vết tích của tử cung còn sót lại, thường không được biết đến trừ phi nó to ra khi đã có tuổi.

cau-truc-tuyen-tien-liet

Ở tuổi trưởng thành thường có kích thước rộng 4cm x 3 cm cao x 2,5 cm dầy, có khối lượng từ 15 – 25g, tiết ra chất nhờn và tạo nên một số thành phần của tinh dịch. Dọc theo thân của tuyến tiền liệt có các chuỗi mạch – thần kinh (vasculo – nerveux) kích thích sự cương dương của dương vật. Bệnh lý tuyến tiền liệt thường gặp là viêm tiền liệt tuyến, phì đại lành tính tuyến tiền liệt và ung thư tiền liệt tuyến.

Phì đại lành tính tuyến tiền liệt ( PĐLTTTL ), trước đây được biết đến với tên gọi U xơ tuyến tiền liệt, là một bệnh thường gặp ở nam giới trên 50 tuổi đặc trưng bởi các rối loạn tiểu tiện gây ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống.
Bệnh được mô tả từ thời Hypocrat. Cuối thế kỷ 19 tác giả Wirchow đã nghiên cứu về mô bệnh học và hình ảnh vi thể của PĐTTL.
Tại Mỹ theo thống kê của Iaacs và Coffey số người mắc PĐTLT ở tuổi 40 là 25%, Ở tuổi 70 là 80%.
Tại Việt Nam( VN) theo một nghiên cứu của Trần Đức Hòe và cộng sự năm 1995 tỷlieetjbij bệnh u xơ, phì đại tuyến tiền liệt là 50% ở độ tuổi 51 đến 60, 71,8% ở độ tuổi 61 đến 70, 85,1% ở độ tuổi từ 71 đến 80 và 83,3% ở độ tuổi 81 đến 90.
Hiện nay tỉ lệ người mắc PĐTLT được phát hiện và điều trị ngày càng tăng. Cho đến nay ở VN đã có nhiều công trình nghiên cứu để chẩn đoán và điều trị PĐLTTTL, có các cơ sở y tế chuyên sâu nghiên cứu và điều trị PĐLTTTL như Bệnh viện Nội tiết Trung ương, Bệnh viện 103… Đã ứng dụng nhiều trang thiết bị y tế hiện đại điều trị hiệu quả PĐLTTTL.
Nhiều tác giả nghiên cứu về PĐLTTTL như: Trần Xuân Dâng, Nguyễn Thị Tú Anh, Trần Thị Châm, Nguyễn Thị Tuyết…
Các biện pháp điều trị PĐLTTTL bao gồm điều trị nội khoa như thuốc có tính chất Hormon, thuốc kháng anpha giao cảm, thuốc có nguồn gốc từ thực vật như Tadenan, Hazon, Permison, Bromocriptin…
Vật lý trị liệu và ngoại khoa đó là: dùng kháng sinh kết hợp với nội tiết tố, chiếu la ser, sóng ngắn, từ trường, thuốc đông dược.
PĐLTTTL được phẫu thuật khi điều trị nội khoa không đỡ gây bí tiểu tiện phải đặt sông dài ngày. Phẫu thuật nhằm cắt bỏ khối phì đại như phẫu thuật nội soi cắt sén đi một phần của khối phì đại, mổ phanh cắt bỏ được triệt để hơn, nhằm giải phóng sự chèn ép của PĐTTL vào đường tiểu ( Cổ bàng quang và niệu đạo ), Đốt điện bằng vi sóng, Đốt bằng kim qua niệu đạo, Quang đông bằng tia Laser… Tuy nhiên chi phí điều trị cao, kết quả điều trị không phải lúc nào cũng như mong muốn, đôi khi bệnh có tái phát và hay biến chứng. Đặc biệt ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe người bệnh.
Trong đề tài này chúng tôi điều trị cho bệnh nhân bị bệnh tuyến tiền liệt bằng thuốc thành phẩm Tế sinh thận khí hoàn của Cơ sở sản xuất thuốc YHCT Hoa Việt, địa chỉ: Thị trấn Kiện Khê Huyện Thanh Liêm Tỉnh Hà Nam. Nhằm mục tiêu chính sau đây.