Bệnh Tiền Liệt Tuyến Nguyên Nhân Dấu Hiệu Và Cách Điều Trị Hiệu Quả

Switch to desktop Register Login

Giới thiệu bệnh U xơ tuyến tiền liệt

u-xo-tuyen-tien-liet-la-giU xơ tuyến tiền liệt là một u lành tính, thường xuất hiện xuất hiện ở nam giới khi tuổi bắt đầu cao. Bệnh có thể gây ra một số biến chứng làm tắc đường tiết niệu. Việc điều trị bằng phương pháp ngoại khoa thường đem lại kết quả tốt. Tuy nhiên, những năm gần đây nhờ những nghiên cứu về sinh hóa và dược lý nên đã hình thành một xu hướng điều trị nội khoa, không dùng phẫu thuật để điều trị những biến chứng thông thường ở bệnh này.

Tuyến tiền liệt hình thành từ tuần lễ thứ 12 ở thai nhi nam, phát triển theo quá trình biệt hóa đến khi trẻ ra đời. Đến lúc dậy thì tuyến tiền liệt tiếp tục phát triển và hoạt động như một tuyến sinh dục phụ.

U xơ tiền liệt tuyến và ung thư tuyến tiền liệt tuy không có liên quan gì với nhau, nhưng 2 bệnh này có thể xuất hiện một lúc ở bệnh nhân cao tuổi, ở Việt Nam bệnh u xơ tiền liệt tuyến có dâu hiệu tăng

U xơ tuyến tiền liệt là hậu quả của quá trình lão hóa sinh vật, nhưng trải qua thời gian, nguyên nhân bệnh lý về u xơ tuyến tiền liệt mới được xác định và các phương pháp điều trị đặc hiệu đã được tìm ra.

U xơ tuyến tiền liệt là nguyên nhân thường gặp nhất gây hội chứng tắc đường tiết niệu dưới bàng quang. Niệu đạo tuyến tiền liệt bị kéo dài và bị chèn ép bởi 2 thùy bên, bàng quang dầy gấp 2-3 lần so với bình thường, các thớ cơ phì đại, bị các tương bào và tế bào lympho xâm nhiễm. Mặt khác, do áp lực trong bàng quang khi đi tiểu tăng từ 30-50cm nước hoặc cao hơn, niêm mạc bàng quang bị đẩy qu các thớ cơ ra ngoài, tạo thành các hình lồi lõm trong lòng bàng quang mà người ta thường gọi là cột vag hang. Một số hang có thể biến thành túi thừa bàng quang. Vùng tam giác bàng quang dễ bị phì đại và chèn ép làm hẹp đoạn niệu đạo chui qua bằng quang. Điều này làm trở ngại cho dòng nước tiểu từ niệu đạo xuống, làm tăng áp lực trong lòng niệu quản và đến giai đoạn không bù trừ, tác dụng van của lỗ niệu quản mất đi. Sự trào ngược nước tiểu từ bàng quang lên niệu quản và đài bể thận không tránh khỏi kgi bàng quang còn tồn đọng nước tiểu do không đủ khả năng tống hết nước tiểu ra ngoài. Ở giai đoạn này, áp lực nước tiểu làm giãn đài bể thận, gây thận ứ nước, viêm thận – bể thận, suy thận và hỏng thận trong kh bàng quang giãn và mất dần trương lực.

Tùy theo phát triển của u xơ và thích ứng của cơ tể bệnh nhân triệu chứng bệnh có thể chia làm ba giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Là giai đoạn cơ năng chưa có tổn thương, thực thể bệnh nhân đi tiểu khó với các biểu hiện như nước tiểu ra chậm, dòng nước tiểu nhỏ và yếu, ngắt quãng, đi tiểu xong còn nhỏ giọt, thời gian đi tiểu kéo dài. Đồng thời do sự kích thích của cơ bàng quang phì đại, bệnh nhân có chứng đi tiểu vội, buồn đi tiểu là phải đi ngay, đi nhiều lần trong ngày và đêm, đặc biệt về gần sáng

- Giai đoạn 2: Là giai đoạn đã có tổn thương thực thể tức là bàng quang giãn là có tồn đọng nước tiểu trên 100ml. Ở giai đoạn này, bệnh nhân đi tiểu khó, nhiều lần với mức độ tăng lên, ảnh hưởng đến sinh hoạt. Đi tiểu xong bệnh nhân vẫn còn cảm giác đi chưa hết và một lúc sau lại phải đi nữa. Những hiện tượng này làm bệnh nhân lo lắng, đặc biệt sự ứ đọng nước tiểu thường kèm theo những dấu hiệu nhiễm khuẩn với các biểu hiện đi tiểu buốt, nước tiểu đục.

- Giai đoạn 3: Là giai đoạn có tổn thương thực thể nặng, ảnh hươmgr đến chức năng thận và sự thích ứng của cơ thể đã giảm sút. Đây là giai đoạn không bù trừ, lúc này cơ thanhg bàng quang mỏng, mấtương lực, ứ đọng nước tiểu tăng, kèm theo nhiễm khuẩn. Các triệu chứng đi tiểu khótăng đến mức bệnh nhân phải đi tiểu nhiều lần, có khi dẫn đến tình trạng nghịch lí là đái rỉ liên tục do nước tiểu tràn đầy bàng quang giãn căng. Ở giai đoạn này, các triệu chứng toàn xuất hiện rầm rộ như thiếu máu, buồn nôn, ăn kém, buồn ngủ, mẹt mỏi, phù, tăng huyết áp. Đó là những biểu hiện suy thận do tắc đường tiết niệu. Trong thực tế quá trình diễn biến theo 3 giai đoạn trên không phải lúc nào cũng xuất hiện. Sự tiến triển của bệnh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là sự tăng trưởng của u xơ, sự thích ứng của cơ thể và cách sinh hoạt của từng người. Mặt khác trong bất cứ giai đoạn nào bí đai hoàn toàn cũng có thẻ xảy ra và đặt bệnh nhân trong tình trạng cấp cứu.

Những triệu chứng thường gặp là bí đái hoàn toàn, làm bệnh nhân đau quặn dữ dội vùng bụng dưới bí đái không hoàn toàn, bệnh nhân đái được nhưng nước tiểu bị ứ đọng trong bàng quang trên 100ml, túi thừa bàng quang, đái ra máu, nhiễm khuẩn tiết niệu, suy thận do viêm bể thận.

Do nguyên nhân gây bệnh chứa được xác định rõ nên việc phòng bệnh thiên về ngăn nừa các biến chứng và phát triển giai đoạn tiến triển của bệnh để đề ra phương pháp điều trị thích hợp. Cần ăn uống điều độ, tránh uống rượu, có chế độ sinh hoạt, lao động, vận động và nghỉ ngơi hợp lý. Tránh ngồi, nằm lâu một chỗ gây tích tụ máu ở vùng khung chậu, luyện tập và vận động các cơ có chức năng điều hòa khi đi tiểu và đại tiện như bơ thành bụng, cơ hoành và các cơ vùng tầng sinh môn. Tránh viêm nhiễm và ứ đọng nước tiểu lâu vì viêm nhiễm làm tăng nguy cơ tắc đường tiểu tiện gây bí tiểu tiện. Chú ý điều trị bệnh đái tháo đường, bệnh về tiêu hóa.